LÁI XE Ô TÔ GÂY TAI NẠN PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM NHƯ THẾ NÀO?

15:08 |

Người điều khiển ô tô gây tai nạn giao thông liên hoàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với hình phạt phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 15 năm theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Ô tô đâm liên hoàn trên phố không phải là những vụ việc mới nhưng luôn nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội bởi tính chất nghiêm trọng của các vụ việc này. Thời gian gần đây đã xảy ra một số vụ việc với nhiều hậu quả đáng tiếc.
Vấn đề đặt ra là tài xế lái xe ô tô gây ra tai nạn phải chịu trách nhiệm như thế nào? Và hình thức xử phạt đối với những hành vi này có đủ sức răn đe hay không? Đây là những thắc mắc của rất nhiều người, từ tài xế gây ra tại nạn, người bị hại đến những người chứng kiến những vụ tai nạn kinh hoàng do các tài xế ô tô gây ra.
(Nguồn: Internet)
Qua nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành, Công ty Luật Trung Nguyễn có một vài quan điểm như sau:

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, khi ô tô gây ra tai nạn giao thông, người điều khiển ô tô gây tai nạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điều 5, Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Căn cứ điểm b, khoản 7, Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, tài xế điều khiển xe ô tô gây tai nạn bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây: Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.
Căn cứ điểm c, khoản 8, Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, tài xế điều khiển xe ô tô gây tai nạn bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau: Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; tránh, vượt không đúng quy định gây tai nạn giao thông hoặc không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông.
Đặc biệt, trường hợp tài xế điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông gây tai nạn có thể bị phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu gây tai nạn giao thông do thực hiện một trong các hành vi sau: Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ; dùng chân điều khiển vô lăng xe khi xe đang chạy trên đường(khoản 10, Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP).
Ngoài việc bị phạt tiền, căn cứ điểm c, điểm d, khoản 12, Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP, người điều khiển xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng khi thực hiện hành vi quy định tại điểm b Khoản 7; điểm c Khoản 8 Điều này; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng khi thực hiện hành vi vi phạm tại khoản 10 điều này.
(Nguồn: Internet)
Cùng với đó, người điều khiển ô tô gây tai nạn giao thông liên hoàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với hình phạt phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 15 năm theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, quy định pháp luật hiện hành là khá nghiêm khắc, mang tính răn đe cao đối với người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói chung và người điều khiển ô tô nói riêng vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông. Vì vậy, để tránh gặp phải những kết cục pháp lý bất lợi, khi tham gia giao thông, người lái xe ô tô (bao gồm tất cả những người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cần tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Trường hợp người điều  khiển giao thông không may gây tai nạn cần dừng lại ngay, giữ nguyên hiện trường, tham gia cấp cứu người bị nạn, thực hiện những biện pháp cần thiết để hạn chế tối đa thiệt hại đối với người, tài sảnđến trình báo với cơ quan có thẩm quyền trong thời gian sớm nhất.
------------------------------------------------------------
Nguyễn Thu Huyền - Công ty Luật Trung Nguyễn

Chủ sòng bạc ảo 'ăn' tiền thật có thể bị xử đến 10 năm tù

00:54 |
TPO - Luật sư Nguyễn Tiến Trung cho rằng, đánh bạc thông qua mạng internet để “ăn” tiền là có dấu hiệu tội phạm hình sự.
Luật sư Nguyễn Tiến Trung
Như Báo Tiền Phong phản ánh, sau khi sòng bài của Phan Sào Nam bị triệt phá một thời gian ngắn, hình thức đánh bạc tương tự nở rộ trên mạng internet như: Gem.Club; RikVipcom.vn; PocVip.com...
Một sòng bạc trên mạng internet. Ảnh chụp màn hình.
Trao đổi với Báo Tiền Phong, luật sư Nguyễn Tiến Trung, Giám đốc Công ty Luật Trung Nguyễn cho rằng: Hình thức đánh bạc ăn tiền qua mạng internet là việc tham gia vào các trò chơi mô phỏng, khi đó người tham gia chơi phải nạp tiền thật hoặc nạp thẻ cào điện thoại và được tổ chức cung cấp dịch vụ phát hành một loại tiền ảo có giá trị khi đổi ra tiền thật như xu, xèng, coi....
Việc tham gia trò chơi dưới hình thức đánh bạc qua mạng internet là hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật. Cụ thể, Khoản 3 - Điều 3 - Thông tư 24/2014/TT-BTTTT ngày 29/12/2014 của Bộ Thông tin và truyền thông quy định: “Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ trò chơi điện tử để đánh bạc, tổ chức đánh bạc, lừa đảo, kinh doanh trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác". Bên cạnh việc sử dụng dịch vụ trò chơi trên mạng internet để đánh bạc bị cấm theo quy định nêu trên, hình thức trò chơi đánh bạc qua mạng internet này còn có thể bị xử lý bởi Luật Hình sự.
Theo đó, Điều 321 - Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Ngoài ra, điều 322 - Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định: 1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5 triệu đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5 triệu đồng trở lên.
Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5 triệu đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5 triệu đồng trở lên.
Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20 triệu đồng trở lên; Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc. Sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc; Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Thu lợi bất chính 50 triệu đồng trở lên; Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội; Tái phạm nguy hiểm”.
Với những quy định như trên, tuỳ thuộc vào số tiền, hiện vật tham gia đánh bạc mà người tham gia, người tổ chức sẽ bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự theo hành vi tương ứng.

Xử lý như thế nào đối với người có hành vi can thiệp vào kết quả thi của thí sinh THPT năm 2018 tại Hà Giang

10:07 |
TPO - Luật sư Nguyễn Trung cho rằng việc ông Vũ Trọng Lương - Phó Phòng khảo thí Sở GD&ÐT tỉnh Hà Giang can thiệp vào 330 bài thi là vi phạm đặc biết nghiêm trọng có thể bị phạt 20 năm tù theo điều 359 về Tội giả mạo trong công tác.
Kết quả thi THPT ở Hà Giang vượt trội một cách bất thường.
Như Tiền Phong đã thông tin “Biến hóa từ 1 điểm thành 9,5 điểm” phản ánh ông Vũ Trọng Lương - Phó Phòng khảo thí Sở GD&ÐT tỉnh Hà Giang, đã sử dụng công nghệ can thiệp vào kết quả của 330 bài thi (của 114 thí sinh) nhằm nâng điểm. Luật sư Nguyễn Trung, Giám đốc Cty TNHH Luật Trung Nguyễn đã lên tiếng về việc này.
Cần đình chỉ cán bộ trực tiếp "nâng khống điểm thi"
Trao đổi với Tiền Phong, ông Nguyễn Trung, Giám đốc Cty TNHH Luật Trung Nguyễn cho rằng, dưới góc độ quản lý, Sở GDĐT tỉnh Hà Giang cần phải thực hiện một số hành động cụ thể đối với ông Vũ Trọng Lương, Phó Trưởng phòng Khảo thí và Quản lý chất lượng, Sở GD&ĐT Hà Giang.
Luật sư Nguyễn Tiến Trung - giám đốc Công ty Luật Trung Nguyễn
 Cơ quan chức năng đã xác định ông Vũ Trọng Lượng là người trực tiếp can thiệp vào kết quả thi của thí sinh, chính vì thế, Sở GD&ĐT Hà Giang cần ban hành quyết định tạm đình chỉ công tác theo điều 81 - Luật cán bộ, công chức, trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật đối với ông này.
 Luật sư Nguyễn Trung phân tích, hành vi của ông Vũ Trọng Lương là đặc biệt nghiêm trọng, việc làm này không chỉ vi phạm các quy định của pháp luật mà còn gây dư luận xấu, giảm uy tín của tỉnh Hà Giang nói riêng và chất lượng thi THPT năm 2018 trên cả nước nói chung.
Về câu trả lời đối với phóng viên của ông Mai Văn Trinh - Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng (Bộ GD&ĐT) trong việc chưa đủ cơ sở, căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Vũ Trọng Lương là chưa chính xác và chưa phù hợp với các quy định của pháp luật. 
Đối chiếu hành vi mà ông Vũ Trọng Lương đã thực hiện về việc nâng, sửa điểm của thí sinh trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018 tại tỉnh Hà Giang đối chiếu với các quy định của pháp luật cho thấy, đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự ông Vũ Trọng Lương, luật sư Trung nói.
Luật sư Nguyễn Trung trích dẫn Thông tư 04/2017/TT-BGDĐT ngày 25/01/2017 của Bộ GD&ĐT ban hành quy chế thi trung học phổ thông quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông, tại điều 48 - điểm d về Xử lý cán bộ tham gia tổ chức thi và cá nhân liên quan khác vi phạm quy chế thi có quy định như:
Buộc thôi việc hoặc đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có một trong các hành vi sai phạm sau đây: Sửa chữa, thêm, bớt vào bài làm của thí sinh; Cố ý chữa điểm trên bài thi, trên biên bản chấm thi hoặc trong bảng điểm…
Bên cạnh đó, tại điều 118 - Luật Giáo dục cũng quy định việc xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hành vi “Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, thi cử”. Cụ thể: Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật như: Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ.
 Ngoài ra, việc ông Vũ Trọng Lương lợi dụng được phân công dùng máy tính quét bài thi trắc nghiệm để thực hiện việc sửa điểm cho thí sinh thì có thể bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự tại điều 288 về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông.
Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật) và điều 359 về Tội giả mạo trong công tác (Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu). Theo đó, người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 đến 100 triệu đồng.
Các đối tượng gián tiếp can thiệp điểm thi là ai?
Theo luật sư Trung, việc tổ chức kỳ thi THPT Quốc gia là đặc biệt quan trọng, nhằm lấy kết quả để xét tốt nghiệp THPT, tuyển sinh ĐH- CĐ và giáo dục nghề nghiệp. 
Vì vậy, sự việc “Nâng điểm không trong sáng” xảy ra trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018 tại tỉnh Hà Giang là vấn đề cần phải giải quyết kịp thời và phải xử lý nghiêm những cá nhân có sai phạm theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong văn bản số 6756/VPCP-KGVX ngày 17/7/2018.
Luật sư Trung nhận định, phụ huynh cũng như các em thí sinh tham dự kỳ thi THPT vừa qua rất bất bình khi có những trường hợp điểm thi thuộc dạng điểm liệt hoặc tổng điểm của các bài thi không vượt qua điểm trung bình, nhưng sau khi được “nâng điểm không trong sáng” thì kết quả thi của thí sinh đó lại ở trong top những người có tổng điểm các môn cao nhất cả nước và kết quả này sẽ giúp thí sinh trúng tuyển tại các trường như mong muốn.
Luật sư Trung nhận định, vụ việc này không phải hành động tự phát, bột phát của ông Vũ Trọng Lương, Phó Trưởng phòng Khảo thí và Quản lý chất lượng, Sở GD&ĐT Hà Giang mà hẳn là có nhiều người can thiệp, tạo sức ép lên ông này.
Việc quan trọng cơ quan điều tra cần xác định được danh sách các đối tượng đã can thiệp gián tiếp qua ông Lương để ông này sửa, nâng điểm cho thí sinh, luật sư Trung nói.
Minh Đức

Chuyện buồn tại kỳ tuyển sinh lớp 10 THPT của Hà Nội: “Giằng co” phí nhập học trường ngoài công lập

15:56 |
PNTĐ-Đó là hiện tượng xảy ra tại một số trường THPT ngoài công lập (NCL) đang gây chú ý đặc biệt của dư luận trong mùa tuyển sinh đầu cấp năm nay.

Phía nhà trường kiên quyết không trả lại tiền mà học sinh đã đóng nếu học sinh đó rút hồ sơ, còn nhiều phụ huynh học sinh (PHHS) lại bức xúc cho rằng mình đã bị trường “cướp” tiền. Mặc dù Sở GD-ĐT Hà Nội đã phải vào cuộc phân xử, nhưng cuộc giằng co phí nhập học giữa nhà trường và PHHS vẫn chưa đi tới hồi kết.
Tiền trao đi cấm đòi lại?
Trên một diễn đàn, nhiều PHHS cho biết, vừa qua, vì sợ con trượt trường THPT công lập (do chưa biết điểm chuẩn), họ đã “gõ cửa” trường NCL. Còn một số trường NCL cũng tung ra nhiều yêu cầu buộc PHHS phải đáp ứng, trong đó có yêu cầu phải nộp một khoản tiền lớn và không được nhận lại nếu rút hồ sơ. Chẳng hạn, tại trường THCS-THPT Nguyễn Siêu, khoản tiền giữ chỗ đã lên tới 10 triệu đồng. Một PHHS nhẩm tính, trong một mùa tuyển sinh, chỉ cần 10 HS rút hồ sơ là trường đã ung dung đút túi 100 triệu đồng. 
Tương tự, theo nhiều PHHS, nếu muốn nhập học cho con vào trường THCS- THPT Lương Thế Vinh, ngoài nộp học bạ gốc của con, họ còn phải đóng hơn 6 triệu đồng. Khi họ có nhu cầu chuyển con sang học tại trường khác, trường Lương Thế Vinh chỉ đồng ý trả học bạ chứ không trả tiền. Quá bức xúc, nhiều PHHS đã ký đơn tập thể xin được hoàn lại tiền rồi gửi lại phòng bảo vệ vì nhà trường không tiếp PHHS nhưng vẫn không được giải quyết. Theo một PHHS, trong 6 triệu đồng trường thu có cả các cả khoản học phí 1 tháng, xây dựng trường, đồng phục, tiền vở… Con em họ chưa học tại trường ngày nào mà vẫn phải nộp các khoản trên là vô lý. 

Trường Lương Thế Vinh - nơi nhiều PHHS muốn rút lại phí nhập trường mà không được 
Trước tình hình đó, ngày 1/7, Sở GD-ĐT Hà Nội đã có văn bản yêu cầu các trường THPT trên địa bàn Thành phố không được làm khó HS rút hồ sơ nhập học lớp 10. Ngày 3/7, Sở GD-ĐT Hà Nội có thêm văn bản số 2784/SGDĐT-QLT yêu cầu trường THCS-THPT Lương Thế Vinh không được gây khó khăn cho các PHHS muốn rút hồ sơ và phải hoàn trả toàn bộ phí đã thu của PHHS. 

Bất chấp yêu cầu của Sở GD-ĐT, trường Lương Thế Vinh vẫn không trả lại tiền đã thu của PHHS. Trả lời báo chí, bà Văn Thùy Dương - Phó Hiệu trưởng trường THCS-THPT Lương Thế Vinh cho rằng, việc tuyển sinh của nhà trường diễn ra rất minh bạch. Ngay từ đầu, nhà trường đã thông báo công khai “Các vị phụ huynh cân nhắc kỹ trước khi nộp hồ sơ vào trường. Trong trường hợp bắt buộc phải rút hồ sơ, phần kinh phí nhập học sẽ chuyển vào Quỹ Khuyến học của nhà trường”. Đây là sự thỏa thuận từ đầu của trường với PHHS. Khi nhận những HS này, trường đã phải từ chối các HS khác và cũng mất đi cơ hội tuyển được những HS đã tìm hiểu kỹ và sẵn sàng đồng hành cùng nhà trường lâu dài. Vì thế, PHHS khi không học tại trường nữa phải chấp nhận thực hiện nghĩa vụ về tài chính đã được thỏa thuận với trường. 
“Tịch thu phí giữ chỗ” nhìn từ góc độ pháp lý

Luật sư Nguyễn Tiến Trung, giám đốc Công ty Luật Trung Nguyễn bình luận về sự việc tại trường Lương Thế Vinh rằng, thông báo tuyển sinh của trường THPT Lương Thế Vinh phát hành công khai thì khi nộp hồ sơ tuyển sinh các PHHS có nghĩa vụ đọc hiểu đầy đủ nội dung trong thông báo. Dưới góc độ pháp lý việc PHHS nộp hồ sơ và đóng các khoản thu theo thông báo là sự nhất trí, thỏa thuận giữa PHHS với nhà trường.
Luật sư Nguyễn Tiến Trung - giám đốc Công ty Luật Trung Nguyễn
Theo LS Trung, phần lớn nội dung văn bản văn số 2784/SGDĐT-QLT ngày 3/7/2018 của Sở GD-ĐT đảm bảo việc thể hiện công tác quản lý nhà nước về giáo dục. Tuy nhiên, riêng mục 3 của văn bản yêu cầu nhà trường “... hoàn trả toàn bộ các khoản tiền, lệ phí đã thu khi học sinh rút hồ sơ” sẽ gây ra sự “hỗn loạn” giữa một bộ phận PHHS với một số cơ sở công lập. Ngoài ra, căn cứ Luật Giáo dục có thể thấy rằng, việc trường THPT Lương Thế Vinh cũng như các trường THPT khác có thu của học sinh hoặc PHHS các khoản thu là không trái với quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, theo LS Trung, trong bối cảnh “nước sôi lửa bỏng”, nhiều PHHS lo lắng việc con của mình không đủ điểm để trúng tuyển vào những trường công lập như nguyện vọng nên lựa chọn các cơ sở NCL như là giải pháp tối ưu. Ngoài ra không loại trừ nhiều bậc PHHS đã nhắm mắt làm ngơ hoặc đánh liều với lựa chọn của mình không xem xét kỹ lưu ý trong thông báo để “tranh nhau” nộp hồ sơ cũng như các khoản thu nhà trường đã đề ra.
Vì thế, LS Trung khuyến nghị, để đảm bảo công tác quản lý nhà trường ổn định cũng như không gây những căng thẳng không đáng có trong môi trường giáo dục, PHHS cần cân nhắc kỹ trước khi chính thức nộp hồ sơ, nộp các khoản tiền mà nhà trường yêu cầu để tránh hiện tượng “lật kèo” sau này. Về phía nhà trường chỉ nên giữ khoản thu thực tế, cần thiết trong công tác tuyển sinh là lệ phí tuyển sinh, còn các khoản khác mà thực tế nhà trường chưa sử dụng, chưa chi dùng hoặc thực tế HS chưa được thụ hưởng thì nên hoàn trả. 
Nhưng chưa thuyết phục về tình
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, nhà giáo, trong đó có ông Đặng Đình Đại, Hiệu trưởng trường phổ thông quốc tế Well Spring, lại không đồng tình khi nhà trường giữ phí nhập học của PHHS. Ông Đại cho rằng, dẫu về lý, nhà trường có thể không sai nhưng trường học là cơ sở giáo dục vì thế không nên mang vào đó các yếu tố “thương mại”.
“Theo tôi, các nhà trường phải đặt quyền lợi của HS trước tiên thay vì chỉ nghĩ cho mình. Khi HS tìm được cơ hội giáo dục khác tốt hơn, nhà trường phải mừng, tạo điều kiện để các em được rút hồ sơ và trả lại tiền. Khẩu hiệu của ngành giáo dục là “tất cả vì học sinh thân yêu” và “xây dựng trường học thân thiện”, vậy nhà trường “phạt tiền” HS thì có còn trở nên thân thiện và coi học sinh là thân yêu nữa không?”. Ngoài ra, theo ông Đại, việc HS rút hồ sơ không gây tổn hại cho trường nhiều vì thời hạn tuyển sinh vẫn còn, trường NCL vẫn có thể tuyển được HS khác thay thế.
Trong khi đó, một hiệu trưởng khác cho biết, ở đây, dù gọi là thỏa thuận nhưng thực tế chỉ là từ một phía. “Khi lo con em thất học thì trường có đưa ra yêu cầu nào, PHHS cũng phải chấp nhận”. Vì thế, vị hiệu trưởng này nhìn nhận việc một số trường NCL tịch thu tiền khi HS ở thế bí là chưa hợp về tình. “Trường học là nơi giáo dục học sinh về lòng nhân văn, cách ứng xử văn minh. Nếu trường “phạt tiền” HS chỉ vì các em không có nguyện vọng học tại trường thì các em sẽ nghĩ gì về thầy cô và các bài giảng đạo đức trong nhà trường?”.
Giữa lúc cuộc “giằng co” tiền nhập học đang diễn ra, vừa qua, trường Marie Curie lại gây chú ý khi đưa ra thông báo ghi rõ: “Sau khi nhập học lớp 10 cho con, nếu có cơ hội khác phù hợp hơn, quý vị CMHS có thể rút toàn bộ hồ sơ HS và các khoản kinh phí đã nộp”. Dư luận cho rằng, đây mới là cách hành xử văn minh, cho thấy “đẳng cấp” của một ngôi trường.

Trung Thu





Để lọt ‘trường ma’, trách nhiệm của cơ quan quản lý giáo dục thế nào?

16:12 |
Phụ nữ Việt Nam - “Việc không thẩm định và/hoặc thẩm định không đầy đủ dẫn tới sự việc đáng tiếc như hiện tại, trách nhiệm chính thuộc về người có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt”, luật sư Nguyễn Tiến Trung chia sẻ về vụ trường THCS-THPT Newton liên kết với “trường ma”.
Trường Newton thông báo tạm dừng hợp tác với Trường GWIS để yêu cầu trường này cung cấp Giấy kiểm định chất lượng theo đề nghị của các cơ quan quản lý giáo dục Việt Nam
Qua thực tế báo cáo của Sở GD-ĐT Hà Nội, về việc hợp tác giữa Trường THCS-THPT Newton với Trường Quốc tế George Washington (GWIS) cùng hồ sơ pháp lý kèm theo và tài liệu hiện có cho thấy, Trường GWIS không phải là trường phổ thông có giáo viên, học sinh và được kiểm định chất lượng tại Hoa Kỳ. Điều khiến dư luận và các phụ huynh quan tâm là các cơ quan quản lý giáo dục (cụ thể là Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT) sẽ phải chịu trách nhiệm thế nào khi đã qua nhiều vòng kiểm định vẫn để lọt lưới “trường ma”?
Về vấn đề này, luật sư Nguyễn Tiến Trung, Công ty Luật Trung Nguyễn cho biết: Việc không thẩm định và/hoặc thẩm định không đầy đủ dẫn tới sự việc đáng tiếc như hiện tại, trách nhiệm chính thuộc về người có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt.
Về nguyên tắc theo quy định của pháp luật sẽ xử lý ở từng mức độ khác nhau đối với những cá nhân/tổ chức có hành vi vi phạm. Khi đó, tùy từng trường hợp và hậu quả xảy ra, các tổ chức, cá nhân có thể bị xử lý hành chính theo Nghị định số 138/2013 ban hành ngày 22/10/2013 của Chính phủ với mức phạt tiền tối đa với cá nhân là 50 triệu đồng, tổ chức là 100 triệu đồng; bên cạnh đó còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả:

1. Buộc giải thể cơ sở giáo dục, tổ chức thuộc cơ sở giáo dục, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập không đúng thẩm quyền. 
2. Buộc hủy bỏ văn bản đã ban hành không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật. 
3. Buộc hủy bỏ sách, giáo trình, bài giảng, tài liệu, thiết bị dạy học có nội dung không phù hợp, xuyên tạc, kích động bạo lực, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. 
4. Buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi viết thêm, sửa nội dung bài thi, học bạ, sổ điểm, phiếu điểm hoặc các tài liệu có liên quan đến việc đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của người học. 
5. Buộc đảm bảo quyền lợi của thí sinh đối với hành vi làm mất bài thi. 
6. Buộc trả lại cho người học số tiền đã thu và chịu mọi chi phí tổ chức trả lại; trường hợp không thể trả lại được thì nộp về ngân sách nhà nước số tiền do hành vi vi phạm mà có. 
7. Buộc giảm số lượng tuyển sinh năm sau bằng số lượng đã tuyển vượt; buộc chuyển người học về địa điểm đã được cấp phép hoạt động giáo dục; 
8. Buộc b sung môn học hoặc nội dung giáo dục còn thiếu theo chương trình giáo dục quy định. 
9. Buộc bổ sung đầy đủ điều kiện về đội ngũ nhà giáo, về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để đảm bảo chất lượng giáo dục hoặc đảm bảo điều kiện an toàn v cơ sở vật cht trường, lớp học. 
10. Buộc hủy bỏ kết quả thi, kết quả đánh giá môn học, kết quả bảo vệ luận văn, luận án không đúng quy định; chm lại bài thi, đánh giá lại kết quả môn học, t chức bảo vệ lại luận văn, luận án. 
11. Buộc hủy bỏ phôi văn bằng chứng chỉ đã in không đúng nội dung quy định. 
12. Buộc chuyn người học đủ điều kiện trúng tuyển đã nhập học sang cơ sở giáo dục khác hoặc hủy bỏ quyết định trúng tuyển, trả lại kinh phí đã thu cho người học nếu không chuyển được đối với cơ sở giáo dục đã tuyển trái phép, bị giải thể, bị tước giấy phép, bị đình chỉ hoạt động giáo dục.)
Ngoài ra, nếu đủ yếu tố cấu thành của  Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quantổ chứcdoanh nghiệp (điều 179) theo quy định tại Bộ luật hình sự thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bộ GD&ĐT đã yêu cầu 9 tỉnh, thành phố dừng hợp tác với Trường GWIS theo quy định của pháp luật, có giải pháp phù hợp đảm bảo quyền lợi của học sinh đang theo học chương trình hợp tác với GWIS và các bên liên quan. Các Sở GD-ĐT thực hiện và báo cáo kết quả về Bộ trước ngày 24/4/2018.
An Huy

Quy định về ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai, hỏi cung bị can

02:07 |
Ngày 01/02/2018 Bộ trưởng Bộ Công an, Viên trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. 
(Hình ảnh - minh họa)
Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/03/2018 áp dụng đối với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội.
Những quy định của thông tư này được áp dụng trong trường hợp: lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đương sự; đối chất; tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Bên cạnh việc đưa ra những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; Bảo quản, sử dụng, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can hoặc lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội; thì việc sử dụng kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can hoặc lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội trong giai đoạn xét xử được quy định như sau:
Hội đồng xét xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh tại phiên tòa; Tòa án cần phải có kế hoạch chuẩn bị cho việc nghe hoặc xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh  tại  phiên tòa trong các trường hợp sau:
– Kiểm tra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án mà Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải kiểm tra công khai tại phiên tòa;
– Bị cáo tố cáo bị bức cung, nhục hình trong quá trình hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội hoặc bị cáo, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội thay đối lời khai;
– Khi có đề nghị của Kiểm sát viên, Điều tra viên và những người tiến hành tố tụng khác.
Như vậy, theo quy định của BLTTHS 2015 và Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được lấy lời khai khi có thiết bị ghi âm ghi hình để đảm bảo tính khách quan, khoa học và minh bạch, đảm bảo tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh sẽ được sử dụng, bảo quản, lưu trữ theo quy định của pháp luật.
Những nơi có điều kiện để thực hiện việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong điều tra, truy tố, xét xử do Bộ Công an phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan quyết định cụ thể và theo quy định tại thông tư này thì chậm nhất đến ngày 01 tháng 01 năm 2020 thực hiện thống nhất việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong điêu tra, truy tô, xét xử trên phạm vi toàn quốc.
Bùi Thị Tươi - Công ty Luật Trung Nguyễn

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác

11:05 |

Kiểm sát - Quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là điều luật mới được bổ sung vào BLTTHS 2015.


Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là những người bị nghi thực hiện tội phạm và không phải lúc nào họ cũng có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, BLTTHS 2015 đã có quy định cho phép người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (khoản 1).


Người bị tố giác và người bị kiến nghị khởi tố có thể nhờ một trong những chủ thể sau làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình: Luật sư; Bào chữa viên nhân dân; Người đại diện; Trợ giúp viên pháp lý (khoản 2)
Nhằm đảm bảo hiệu quả của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, BLTTHS 2015 đã trao cho Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố các quyền: (i) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; (ii) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (iii) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; (iv) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; (v) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nghĩa vụ: Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án; giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ (Khoản 4).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Nghiên cứu, so sánh với quy định tại Điều 59 BLTTHS 2003, thì Điều 84 BLTTHS 2015 có một số thay đổi, bổ sung như sau:
- Theo quy định tại Điều 59 BLTTHS 2003 thì đương sự có thể là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. BLTTHS 2015 quy định đương sự chỉ gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự (Điểm g khoản 1 Điều 4).
- Điều 84 BLTTHS 2015 đã có định nghĩa về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (khoản 1). Theo đó: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
- So với Điều 59 BLTTHS 2003, Điều 84 BLTTHS 2015 đã bổ sung Trợ giúp viên pháp lý có thể là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (khoản 3). Sự bổ sung này nhằm phù hợp với quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý cũng như bảo đảm quyền lợi cho bị hại, đương sự thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý: Có phẩm chất đạo đức tốt; Có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý; Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý; Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật (Điều 19 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017).
- Tại khoản 3 Điều 84 BLTTHS 2015 cũng có sự bổ sung một số quyền cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự nhằm đảm bảo cho họ thực hiện tốt hơn việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, gồm: (i) Đưa ra chứng cứ; (ii) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (iii) Yêu cầu giám định, định giá tài sản; (iv) Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; (v) Không chỉ người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch như BLTTHS 2003 mà BLTTHS 2015 còn quy định người bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có quyền này; (vi) BLTTHS 2015 thay đổi cụm từ “người chưa thành niên” bằng cụm từ “người dưới 18 tuổi” đảm bảo sự đồng bộ với các quy định khác của BLTTHS 2015 và các văn bản pháp luật khác.
Với những điểm mới, những sửa đổi bổ sung như trên, BLTTHS 2015 bảo đảm cho người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trong vụ án hình sự.
Nguyễn Cao Cường -  VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế
Nguồn: Kiemsat.vn

Luật sư được gặp người bị tạm giữ

10:30 |
(PL)- Từ ngày 12-3 tới, người bào chữa (thường là luật sư) có thể gặp người bị tạm giữ, nếu cần giám sát cuộc gặp thì người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phối hợp với cơ sở giam giữ tổ chức giám sát.
“Khi nhận được văn bản thông báo người bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam của cơ quan đang thụ lý vụ án thì cơ sở giam giữ tổ chức cho người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật”.
Đây là quy định mới tại Thông tư liên tịch số 01/2018 ngày 23-1 (có hiệu lực từ ngày 12-3 tới) giữa Bộ Công anBộ Quốc phòngchánh án TAND Tối cao và viện trưởng VKSND Tối cao.
Theo đó, việc phối hợp, tổ chức cho người bị tạm giữ, tạm giam gặp người bào chữa thực hiện theo quy định tại Điều 80 của BLTTHS và Điều 22, Điều 34 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.
Trường hợp cần phải giám sát cuộc gặp thì thủ trưởng, người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phối hợp với cơ sở giam giữ tổ chức giám sát. Nếu người bị tạm giữ, tạm giam, người bào chữa có hành vi vi phạm nội quy cơ sở giam giữ hoặc cản trở việc giải quyết vụ án thì người có thẩm quyền giám sát phải dừng ngay cuộc gặp và lập biên bản, báo cáo với thủ trưởng cơ sở giam giữ và thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án biết để xử lý.
Khi người bào chữa có yêu cầu gặp người bị tạm giữ, tạm giam tại nơi khám bệnh, chữa bệnh ngoài cơ sở giam giữ thì cơ sở giam giữ trao đổi với bác sĩ điều trị. Nếu được sự đồng ý của bác sĩ điều trị thì cơ sở giam giữ thông báo cho người bào chữa biết, đồng thời thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án để có biện pháp phối hợp kịp thời. Người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ phải quản lý, giám sát chặt chẽ, không để người bào chữa đưa, chuyển đồ vật cấm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc có vi phạm khác về việc thăm gặp, gây cản trở việc giải quyết vụ án.
Quy định về phối hợp quản lý người bị tạm giam khi trích xuất phục vụ xét xử tại phiên tòa cũng được nêu cụ thể.
Theo đó, tòa án có thẩm quyền phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và lệnh trích xuất người bị tạm giam cho cơ sở giam giữ nơi đang giam giữ người bị tạm giam chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa. Đồng thời tòa phải trao đổi với cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải về tính chất phức tạp của vụ án, mức độ nguy hiểm, số lượng đối tượng đưa ra xét xử.
Cơ quan có nhiệm vụ áp giải phải phối hợp với cơ sở giam giữ xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc áp giải người bị tạm giam đến địa điểm mở phiên tòa đúng thời gian, phối hợp với lực lượng bảo vệ phiên tòa đảm bảo an ninh, an toàn trong quá trình áp giải và xét xử tại tòa.
Cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải có trách nhiệm bàn giao người bị tạm giam được trích xuất để phục vụ xét xử tại tòa cho thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Khi kết thúc phiên tòa, thẩm phán chủ tọa có trách nhiệm bàn giao người bị tạm giam được trích xuất cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải, trừ trường hợp người bị tạm giam là bị cáo được trả tự do theo bản án, quyết định của tòa. Trường hợp hết thời hạn tạm giam thì phải kèm theo quyết định tạm giam, trừ trường hợp bị cáo bị phạt tử hình theo quy định tại khoản 4 Điều 329 của BLTTHS. Việc bàn giao phải được lập thành biên bản, có ghi rõ tình trạng sức khỏe.
Trong quá trình xét xử, trường hợp phiên tòa tạm nghỉ mà không có điều kiện áp giải người bị tạm giam về cơ sở giam giữ, phải lưu lại tại nơi xét xử thì tòa án bố trí nơi để quản lý người bị tạm giam.
Đại Hưng - PLO

Cục Bổ trợ tư pháp – Bộ Tư pháp, Đoàn luật sư TP. Hà Nội, Công ty Luật TNHH Trung Nguyễn thăm và chúc tết LĐLSVN

16:24 |
Sáng nay, ngày 23/02/2018, tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam (LĐLSVN), Cục Bổ trợ Tư pháp – Bộ Tư pháp do bà Đỗ Hoàng Yến - Cục trưởng; Đoàn luật sư TP. Hà Nội do LS Nguyễn Văn Chiến – Chủ nhiệm làm trưởng đoàn và Công ty Luật TNHH Trung Nguyễn đã đến gặp mặt và chúc tết LĐLSVN nhân dịp đầu năm mới 2018.
Tiếp đón các đoàn có TS. LS Đỗ Ngọc Thịnh – Chủ tịch LĐLSVN; PGS. TS. LS Nguyễn Văn Huyên – Tổng thư ký LĐLSVN cùng đại diện lãnh đạo Văn phòng LĐLSVN.
Nhân dịp đầu năm mới 2018, Luật sư Nguyễn Tiến Trung - giám đốc Công ty Luật TNHH Trung Nguyễn đã gửi lời chúc tới TS. LS Đỗ Ngọc Thịnh và tập thể cán bộ, nhân viên Văn phòng Liên đoàn Luật sư Việt Nam một năm mới nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công!
Công ty TNHH Luật Trung Nguyễn chúc mừng năm mới Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Thay mặt Cục Bổ trợ tư pháp, bà Đỗ Hoàng Yến - Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp đã gửi lời chúc tới Thường trực LĐLSVN và cán bộ, nhân viên Văn phòng Liên đoàn, các luật sư một năm mới nhiều sức khỏe, hanh thông trong mọi việc và có những bước phát triển mới.
Cục Bổ trợ tư pháp chúc mừng năm mới Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Nhân dịp đầu năm mới 2018, LS Nguyễn Văn Chiến – Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP. Hà Nội thay mặt cho các luật sư của Đoàn gửi lời chúc tốt đẹp nhất tới lãnh đạo LĐLSVN và cán bộ, nhân viên Văn phòng Liên đoàn.
Đoàn luật sư TP. Hà Nội chụp ảnh lưu niệm với Lãnh đạo LĐLSVN
Tại buổi tiếp, TS. LS Đỗ Ngọc Thịnh – Chủ tịch LĐLSVN cho biết: Năm 2017, LĐLSVN đã gặt hái được nhiều thành tựu to lớn trên mọi mặt công tác, nhất là trong công tác quan hệ quốc tế đã tiếp tục duy trì mối quan hệ, hợp tác với Liên đoàn Luật sư Nhật Bản; Ký hợp tác với Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ và Hội đồng Luật sư Pháp,... giúp gắn kết mối quan hệ quốc tế giữa luật sư Việt Nam với các quốc gia trên thế giới ngày càng và bền vững.
Đồng thời, TS. LS Đỗ Ngọc Thịnh cũng mong muốn Bộ Tư pháp sẽ ngày càng phối hợp chặt chẽ với LĐLSVN trong việc quản lý Nhà nước đối với các hoạt động của luật sư trên tinh thần phát huy tính tự quản của đội ngũ luật sư. Ngoài ra, đội ngũ luật sư Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế để nâng cao được uy tín, hình ảnh của luật sư Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Cũng nhân dịp này, TS. LS Đỗ Ngọc Thịnh đã gửi lời chúc mừng năm mới tới lãnh đạo, nhân viên Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp; tới ban Lãnh đạo Đoàn luật sư TP. Hà Nội; tới các tổ chức hành nghề và các luật sư đồng nghiệp.
VP